Kiến Thức Y KhoaXét Nghiệm

Xét Nghiệm Anti Là Gì? Ý nghĩa xét nghiệm Anti beta2 glycoprotein IgG

22

Xét nghiệm Anti beta2 glycoprotein IgG được ứng dụng để chẩn đoán hội chứng kháng phospholipid, gây ra tình trạng xuất hiện các cục huyết khối không rõ nguyên nhân hoặc sảy thai tự nhiên nhiều lần.

Thế nào là xét nghiệm Anti beta 2 glycoprotein IgG?

Beta 2 glycoprotein (β2GPI) là một loại lipoprotein được tổng hợp từ gan và giải phóng vào máu. Anti beta 2 – Glycoprotein có đặc điểm của một tự kháng thể được sản xuất bởi hệ thống miễn dịch, nên chúng nhắm tới các protein lipid có trong lớp tiểu cầu và tế bào ngoài cùng của cơ thể. Beta 2 glycoprotein gồm 2 loại kháng thể là IgG và IgM.

Trong cơ thể, Beta 2 – Glycoprotein trực tiếp tham gia vào quá trình đông máu. Sự có mặt của Anti beta 2 – Glycoprotein có thể làm tăng nguy cơ hình thành các cục huyết khối trong lòng mạch và đồng thời liên quan với quá trình giảm tiểu cầu, sinh non, tiền sản giật hoặc sảy thai.

Chỉ định trong xét nghiệm Anti beta 2 – Glycoprotein

Thông thường, xét nghiệm Anti beta 2 – Glycoprotein được bác sĩ chỉ định cùng bộ xét nghiệm Anti Phospholipid trong những trường hợp sau:

  • Dùng cho những bệnh nhân trẻ tuổi có xuất hiện cục máu đông tĩnh mạch hoặc động mạch nhưng không có yếu tố nguy cơ.
  • Sử dụng cho các thai phụ có tiền sử đã từng sảy thai, thai lưu từ 2 lần trở lên.
  • Những người đã từng bị sản giật, thai phát triển chậm.
  • Sử dụng cho những người có các dấu hiệu của hội chứng kháng Phospholipid như: Đau đầu, tức ngực, khó thở, động kinh, đột quỵ, suy giảm trí tuệ,…
  • Đôi khi bác sĩ cũng đề xuất cho bệnh nhân làm xét nghiệm Anti beta 2 – Glycoprotein để tìm nguyên nhân gây ra hiện tượng giảm tiểu cầu.

Đọc kết quả xét nghiệm Anti beta 2 – Glycoprotein

Xét nghiệm Anti beta 2- Glycoprotein được thực hiện trên mẫu bệnh phẩm là máu tĩnh mạch bằng phương pháp ELISA (Enzyme-Linked Immunosorbent Assay) để tìm kháng thể IgG/ IgM.

Kết quả của xét nghiệm Anti beta 2- Glycoprotein bao gồm:

Anti beta 2- Glycoprotein IgG:

  • Âm tính: 0 – 8,0 U/ml;
  • Nghi ngờ: 8,0 – 10,0 U/ml;
  • Dương tính: > 10,0 U/ml.

Anti beta 2- Glycoprotein IgM:

  • Âm tính: 0 – 8,0 U/ml;
  • Nghi ngờ: 8,0 – 10,0 U/ml;
  • Dương tính: > 10,0 U/ml.

Đối với những trường hợp bệnh nhân có kết quả âm tính nhưng vẫn thấy xuất hiện các triệu chứng lâm sàng thì nên được theo dõi và thực hiện lại xét nghiệm Anti beta 2- Glycoprotein sau 4 đến 6 tuần.

Xét nghiệm Anti beta 2- Glycoprotein

Xét nghiệm Anti beta 2- Glycoprotein được thực hiện trên mẫu bệnh phẩm là máu tĩnh mạch

Ý nghĩa của xét nghiệm Anti beta 2 – Glycoprotein

Hội chứng kháng phospholipid (APS) là một bệnh tự miễn gây ra tình trạng xuất hiện các cục huyết khối không rõ nguyên nhân hoặc có thể sảy thai tự nhiên nhiều lần.

Xét nghiệm anti Beta 2 – Glycoprotein được thực hiện đồng bộ cùng các xét nghiệm antiphospholipd (aPL) khác để chẩn đoán hội chứng kháng phospholipid (APS). Các xét nghiệm này được thực hiện để cung cấp các thông số bao gồm: Chỉ số kháng Cardiolipin IgG/ IgM, chỉ số Anti phospholipid IgG/ IgM, chỉ số Anti β2 – Glycoprotein IgG/ IgM và chỉ số LA.

Xét nghiệm anti Beta 2 – Glycoprotein cần được thực hiện 2 lần, cách nhau khoảng 12 tuần. Nếu kết quả xét nghiệm là dương tính ở cả 2 lần thì tức là dương tính bền bỉ, nếu kết quả của 1 trong 2 lần có 1 lần dương tính thì được xem là dương tính thoáng qua và có thể là do một số tình trạng trong cơ thể gây nên như: Hiện tượng nhiễm trùng, tác dụng phụ của thuốc hay do thay đổi của cơ thể trong thai kỳ.

Khi nào cần xét nghiệm Anti Phospholipid 7 chỉ số?

Khi mang thai, nếu bác sỹ phát hiện thấy có vấn đề bất thường, hoặc từng sảy thai nhiều lần trước đó không rõ nguyên do, thai phụ sẽ được xét nghiệm Anti Phospholipid 7 chỉ số: Anti Cardiolipin IgM, Anti Cardioilipin IgG, Anti beta 2 glycoprotein IgM, Anti beta 2 glycoprotein IgG, Anti Phospholipid IgM, Anti Phospholipid IgM, LA..

Nếu kết quả dương tính, cho thấy thai phụ có kháng thể Anti Phospholipid trong máu. Xét nghiệm 7 thông số này thường cho kết quả dương tính khi phụ nữ đang mang thai hoặc vừa mới sảy thai chưa quá 1 tháng.

Xét nghiệm Anti Phospholipid khi mang thai hoặc ngay sau sảy thai

Hình 03: Xét nghiệm Anti Phospholipid khi mang thai hoặc ngay sau sảy thai

Cần chẩn đoán khi dương tính ít nhất 2 lần, 2 lần cách nhau ít nhất 12 tuần, kết quả dương tính cần làm lại sau mỗi 6 tuần. Nếu mắc bệnh tự miễn, Lupus ban đỏ hệ thống thì kết quả xét nghiệm anti Phospholipid 7 chỉ số âm tính, cần làm lại định kỳ.

Bên cạnh đó cũng nên thực hiện các xét nghiệm nội tiết nữ để giúp đánh giá tình trạng hoạt động của buồng trứng và khả năng dự trữ noãn. Ngoài ra, xét nghiệm này cũng có thể theo dõi sự phát triển nang noãn và rụng trứng trong chu kỳ. Xét nghiệm nội tiết thường làm vào ngày thứ 2 – 3 của chu kỳ kinh nguyệt.

Bị Anti – Phospholipid có nguy hiểm không?

Hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị dứt điểm hội chứng kháng thể kháng Phospholipid. Người bệnh sẽ được điều trị để không hình thành khối máu đông hoặc phát triển thêm. Vì thế, các thuốc đông máu sẽ được sử dụng điều trị, song bệnh nhân cần xét nghiệm máu thường xuyên để kiểm tra nồng độ thuốc trong máu.

Ngoài ra, cần kiểm soát tốt các bệnh do hội chứng Anti – Phospholipid gây ra như Lupus ban đỏ hệ thống nhằm phòng ngừa các biến chứng quan trọng.

Điều trị Anti Phospholipid có thể giữ được thai khỏe mạnh

Hình 04: Điều trị Anti Phospholipid có thể giữ được thai khỏe mạnh

Với khả năng mang thai, nếu bị dương tính với Anti Phospholipid, bệnh nhân cũng không nên quá lo lắng, cần tìm bác sỹ tin tưởng để theo dõi trước và ngay khi có thai. Tùy từng trường hợp bệnh lý mà thai phụ sẽ được chỉ định điều trị, kết hợp Hepatin và Aspirin trọng lượng phân tử thấp, có thể tiêm thuốc chống đông máu Lovenoz.

Ngoài ra, thai phụ cũng cần siêu âm thai kỳ định kì mỗi 3 – 4 tuần/lần, kết hợp làm Doppler mạch rốn thai nhi để xem thai có bị suy hay kém phát triển hay không. Trong quá trình uống và tiêm thuốc¸ mẹ cần được xét nghiệm máu định kỳ, nhằm theo dõi lượng tiểu cầu. Bởi nếu tiểu cầu giảm quá 2/3 so với bình thường thì cần ngưng dùng thuốc tránh xuất huyết hoặc máu không đông.

Nếu đáp ứng tốt phác đồ điều trị, giữ gìn sức khỏe thì mẹ bầu và em bé sẽ bình an suốt thai kỳ.

Sử dụng thuốc chống đông máu để điều trị hội chứng Anti – Phospholipid cần đặc biệt lưu ý tránh chảy máu bởi sẽ rất nguy hiểm. Bạn nên lưu ý:

  • Tránh các môn thể thao đối kháng, có nguy cơ gây chấn thương.

  • Cạo râu bằng máy cạo râu.

  • Sử dụng bàn chải đánh răng mềm.

  • Đặc biệt lưu ý khi sử dụng kéo, dao, các vật sắc nhọn.

  • Hạn chế các loại thực phẩm chứa nhiều Vitamin K như mù tạt, bông cải xanh, đậu nành,…

Tóm lại, xét nghiệm Anti beta2 glycoprotein IgG thường được sử dụng đối với những bệnh nhân mắc hội chứng kháng phospholipid. Kết quả của xét nghiệm sẽ là cơ sở để xác định nguyên nhân gây ra tình trạng sảy thai liên tiếp, tiền sản giật, đái tháo đường thai nghén,bệnh lupus hoặc bệnh huyết khối…ở người bệnh.

0 ( 0 bình chọn )

Hanalab – Trung Tâm Xét Nghiệm Y Khoa Chất Lượng Cao

https://hanalab.vn
Trung tâm xét nghiệm y khoa chất lượng cao Hanalab cam kết mang lại cho quý khách hàng kế quả chính xác, nhanh chóng với dịch vụ chăm sóc khách hàng tận tình, chu đáo.

Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm