Blog

Ý nghĩa của xét nghiệm D – dimer là gì? Giải thích chi tiết nhất

69

Xét nghiệm D-dimer là một trong những xét nghiệm sinh hoá được sử dụng phổ biến hiện nay tại các bệnh viện. Vậy, xét nghiệm này là xét nghiệm chỉ số gì và có ý nghĩa như thế nào? Bài viết sau đây sẽ gửi đến bạn đọc những thông tin liên quan tổng hợp về vấn đề này.

Xét Nghiệm D-Dimer: Giá Trị Chỉ Số, Quy Trình Xét Nghiệm - Diag

Tổng quan giới thiệu xét nghiệm D-dimer

Xét nghiệm D-dimer là một loại xét nghiệm kiểm tra nồng độ D-dimer trong máu. Trong đó định lượng D-dimer là phương pháp chính xác để bác sĩ có thể nhận biết có huyết khối trong máu hay không. Khi cơ thể gặp phải một chấn thương nặng nào đó, cơ chế để tự đông máu trong cơ thể con người sẽ thực hiện vai trò cầm máu, ngăn chặn tình trạng mất máu.

Khi vết thương đang dần được ổn định, bề mặt vết thương cũng sẽ được cầm máu theo cơ chế phá vỡ cục máu đông sau đó sẽ tự động được thực hiện để hồng cầu hoạt động và lưu thông bình thường.

Trong trường hợp nồng độ D-dimer trong máu đột ngột tăng rất có thể là do cơ thể xuất hiện cục máu đông trong mạch máu. Mặc dù D-dimer chỉ được xem như là một trong những chỉ dấu đặc biệt gián tiếp trong quá trình tiêu fibrin được hoạt hóa tuy nhiên lại là chỉ số vô cùng hữu ích với quá trình đông máu đang xảy ra.

Trong thời gian gần đây, việc xét nghiệm D-dimer đã được y học hiện đại áp dụng triệt để thực hiện cùng các kháng thể đơn dòng để xác định tính đặc hiệu tối đa của sản phẩm thoái giáng fibrin.

Xét nghiệm D-dimer là gì?

Xét nghiệm Anti XA: ý nghĩa và cách thực hiện | Medlatec

Xét nghiệm D-dimer là một loại xét nghiệm sinh hóa, được dùng để kiểm tra về tình trạng huyết khối trong máu. D-dimer được định nghĩa là một đoạn protein nhỏ có trong máu. Nó được nối bằng liên kết bắt chéo giữa 2 đoạn D của fibrin, hay chính là sản phẩm sinh ra của quá trình phá vỡ cục máu đông.

Khi bị chấn thương, cơ chế tự đông máu trong cơ thể sẽ ngay lập tức tự động được tiến hành giúp ngăn chặn tình trạng mất máu. Khi vết thương đã được ổn định, vết thương được cầm máu và cơ chế phá vỡ cục máu đông lại được tiếp tục tự động thực hiện để hồng cầu được lưu thông bình thường.

Nồng độ D-dimer trong máu tăng cao chính là dấu hiệu cho thấy có xuất hiện cục máu đông trong mạch máu. Do vậy định lượng protein D-dimer trong máu là phương pháp để nhận xem biết có huyết khối trong máu hay không. Kỹ thuật sinh hoá này được gọi là xét nghiệm D-dimer.

Xét nghiệm D-dimer được dùng để làm gì?

Những câu hỏi thường gặp trong xét nghiệm D-Dimer

Bình thường trong cơ thể con người, quá trình cơ thể hình thành cục máu đông và quá trình tan cục đông (tạo Fibrin và tiêu Fibrin) luôn là quá trình cân bằng với nhau. Chỉ cần quá trình này bị mất cân bằng sẽ gây ra nhiều nguy cơ bệnh, như bệnh lý huyết khối nếu cơ thể tạo fibrin quá mức, hay biến chứng chảy máu khi tiêu fibrin.

D-dimer huyết tương chính là sản phẩm thoái giáng của các fibrin đã được hình thành dưới tác động của Plasmin. Sản phẩm này xuất hiện nhiều trong huyết tương, chỉ dẫn cơ chế tạo ra cục đông được hoạt hóa và thrombin tạo ra.

Việc thực hiện xét nghiệm D-dimer cũng đóng một vai trò quan trọng trong kiểm tra các khối máu đông trong nội mạch lan tỏa (viết tắt là DIC). Trong quá trình để hình thành những cục máu đông rải rác trong các mạch máu nhỏ khắp cơ thể và đồng thời gây ra hiện thượng chảy máu.

Đây là một căn bệnh đặc biệt có ảnh hưởng nguy hiểm đến tính mạng. Thực hiện những xét nghiệm này cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiểm tra và hỗ trợ điều trị DIC. Khi nồng độ D-dimer trong máu giảm xuống rất có thể đó là tín hiệu tốt đặc biệt cho thấy việc điều trị có tiến triển hiệu quả.

Xét nghiệm D-dimer xác định chỉ dấu gián tiếp của quá trình tiêu fibrin

Mặc dù D-dimer chỉ là một loại chỉ dấu gián tiếp của quá trình tiêu fibrin được hoạt hóa nhưng lại rất hữu ích với quá trình đông máu đang xảy ra. Trong khi đó, sản phẩm thoái giáng hoá của fibrin và fibrinogen đều không cho biết nguồn gốc hình thành của nó thoái giáng chính xác từ fibrin hay fibrinogen.

Thời gian gần đây, y học cũng đã sử dụng phương pháp đo D-dimer sử dụng các kháng thể đơn dòng để xác định một cách đặc hiệu sản phẩm thoái giáng của fibrin.

Phân loại kỹ thuật xét nghiệm D-dimer

Hiện nay trong ngành y học hiện đại có 2 kỹ thuật xét nghiệm định lượng D-dimer đang được áp dụng:

Xét nghiệm D-dimer ngưng tập bằng Latex

Xét nghiệm D-Dimer – Bệnh viện Đa Khoa Long An

Đối với phương pháp Xét nghiệm D-dimer ngưng tập bằng Latex này, khoảng giá trị nồng độ D-dimer < 500μg/L hay <0,5mg/L được xem là kết quả bình thường. Xét nghiệm bằng kỹ thuật này có độ nhạy không quá cao, do Test này chỉ phát hiện khi có nhiều cục đông hình thành, nếu trong máu chỉ có 1 cục động thì kết quả vẫn âm tính. Do đó, loại xét nghiệm này được coi như Test nhạy và đặc hiệu để chẩn đoán cho tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch.

Xét nghiệm D-dimer mới siêu nhạy

Khoảng giá trị chỉ số Xét nghiệm D-dimer mới siêu nhạy < 1,1mg/L được xem là bình thường. Kỹ thuật xét nghiệm máu này tiến hành bằng ELISA hoặc đo độ đục miễn dịch để có thể xác định nồng độ D-dimer. Xét nghiệm này siêu nhạy có độ nhạy cực kỳ cao, kể cả có 1 cục đông nhỏ, duy nhất thì vẫn có thể cho kết quả dương tính.

Thời điểm nào cần thực hiện xét nghiệm D-dimer?

Vai trò của xét nghiệm D - dimer trong các bệnh huyết khối | Medlatec

Xét nghiệm D-dimer thường được bác sĩ chỉ định với hai mục đích cơ bản:

  • Một là giúp hỗ trợ chẩn đoán chính xác tình trạng sức khỏe máu của bệnh nhân;
  • Hai là loại trừ bổ sung một hoặc một số vấn đề có thể gây nên những triệu chứng bệnh lý bất thường ở người bệnh.

Bác sĩ sẽ chỉ định cho làm xét nghiệm D-dimer khi bệnh nhân đi khám có các triệu chứng như: Sưng phù nề chân, chân tay bị đổi màu hoặc đau yếu một bên chân. Ngoài ra, các triệu chứng bệnh lý thuyên tắc phổi như: Đột ngột khó thở, tim đập rất nhanh, đau ở ngực, ho ra máu,.. cũng sẽ được chỉ định làm xét nghiệm D-dimer.

D-dimer là một yếu tố chứng minh sự hiện diện của các tế bào fibrin trong tuần hoàn, thường được sử dụng trong cách trường hợp:

Chẩn đoán riêng cho bệnh lý huyết khối

Trong 90% trường hợp bệnh lý huyết khối tĩnh mạch sâu và 95% các trường hợp gặp phải tắc mạch phổi, giá trị D-dimer đề tăng. Chỉ ở 5% những người xét nghiệm không có bệnh huyết khối ghi nhận D-dimer tăng.

Cục máu đông hình thành gây tăng D-dimer

Phát hiện bệnh nhân bị bệnh lý tăng đông máu

Với 1 bệnh nhân đang nằm liệt giường, kết quả xét nghiệm sẽ cho thấy xuất hiện D-dimer có thể gợi ý khả năng huyết khối mới đã hình thành, là bằng chứng quan trọng để thăm dò, xác định huyết khối. Bác sỹ sẽ cần dự phòng thuốc chống đông cho bệnh nhân để có thể phòng ngừa biến chứng.

Theo dõi chặt chẽ bệnh lý huyết khối theo thời gian

Sự trở lại bình thường của chỉ số D-dimer ở bệnh nhân mắc bệnh lý huyết khối sẽ có thể đánh giá hiệu quả điều trị tiến triển tốt, quá trình hình thành các Fibrin đã được cân bằng trở lại. Nhưng nếu xuất hiện trở lại nhiều các D-dimer trong thời gian có thể theo dõi thì khả năng bệnh lý huyết khối tắc mạch tái phát.

Theo đó, xét nghiệm đặc biệt này được chỉ định để:

  • Giúp chẩn đoán các loại huyết khối tĩnh mạch đã được hình thành.
  • Chẩn đoán chính xác tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch.
Chỉ số D - Dmer và ý nghĩa lâm sàng | Vinmec

Quy trình thực hiện xét nghiệm D-dimer cùng cách đọc kết quả

Cách thực hiện xét nghiệm này cũng khá đơn giản, ống nghiệm chứa một lượng chất chống đông Citrat 3.8% được chuẩn bị, huyết tương cũng đã được lấy để làm mẫu bệnh phẩm phân tích.

Bệnh nhân không hoàn toàn nhất thiết phải nhịn ăn trước khi lấy máu xét nghiệm. Kết quả thực hiện xét nghiệm là bình thường nếu:

  • Thử nghiệm Latex: – < 500 μg/L hay < 0,5 mg/L

  • Xét nghiệm thực hiện đo độ đục miễn dịch : <250 ng/ml.

Cục máu đông gây tắc nghẽn mạch máu

Nồng độ D-dimer trong máu tăng bất thường gợi ý nguyên nhân do:

  • Tắc mạch phổi.
  • Huyết khối động mạch.
  • Huyết khối các tĩnh mạch sâu.
  • Tình trạng tăng đông máu: Bệnh lý ác tính; Chấn thương; Các tháng cuối của thời kỳ mang thai; Nhiễm trùng; Giai đoạn hậu phẫu.
  • Giai đoạn sau mổ.
  • Xơ gan.
  • Nhồi máu cơ tim.
  • Làm cầu nối cho đoạn tĩnh mạch-phúc mạc (shunt péritonéoveineux).
  • Đông máu có cục máu đông rải rác trong lòng mạch (CIVD).
  • Chấn thương.
  • Sản giật.
  • Sau điều trị tiêu fibrin (fibrinolysis).

Cũng cần lưu ý đến một số các yếu tố nguy cơ sẽ có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm:

  • Hiệu giá yếu tố dạng thấp cao đặc biệt trong huyết thanh gây dương tính giả.

  • Thuốc tiêu fibrin cũng có thể làm tăng kết quả xét nghiệm.

  • Xét nghiệm D-dimer siêu nhạy có thể tăng cao hoặc hạ thấp giả do tình trạng gia tăng lipid máu, hoặc bệnh phẩm đã bị tủa đục ở bệnh nhân đang điều trị bằng kháng thể đơn dòng chiết xuất từ chuột.

D - Dimer có thể tăng do yếu tố khác ngoài bệnh lý

Kết quả xét nghiệm máu này có giá trị chẩn đoán các bệnh lý về tính trạng huyết khối tắc mạch với độ nhạy đạt 95%, độ đặc hiệu đạt 90%.

Ý nghĩa của kết quả xét nghiệm D-dimer

Tùy vào phương pháp dùng để định lượng mà kết quả xét nghiệm D-dimer ở các cơ sở ý tế thực hiện khác nhau sẽ cho những kết quả khác nhau. Hiện nay, có hai kỹ thuật để làm xét nghiệm D-dimer phổ biến thường được áp dụng là:

  • Xét nghiệm D-dimer ngưng tập trên latex ( Latex agglutinattion D-dimer). Nồng độ D-dimer sẽ được xem là đạt bình thường đối với phương pháp này ở khoảng < 500μg/L hay <0,5mg/L.
  • Xét nghiệm D-dimer siêu nhạy ( Ultrasensitive immunoturbidimetric test). giá trị nhận được được xem là bình thường đối với kỹ thuật này là khoảng nồng độ D-dimer <1,1mg/L.

Kết quả D-dimer là chỉ số âm tính hoặc bình thường

Tratamiento estético a base del plasma rico en plaquetas

Nghĩa là người bệnh đang không bị tình trạng cấp tính hay mắc bệnh lý nào gây ra sự hình thành – vỡ cục máu đông bất thường. Kết quả này là hợp lệ, có khả năng trong máu người bệnh sẽ không có huyết khối. Trong trường hợp các triệu chứng đã gặp ở trên vẫn xảy ra, có thể các xét nghiệm bổ sung khác ngoài xét nghiệm D-dimer sẽ được chỉ định thêm để đưa ra một khẳng định chính xác nhất.

Các chuyên gia cũng đều đồng tình cho rằng xét nghiệm âm tính hữu ích thực sự khi đối tượng có nguy cơ huyết khối trung bình – thấp. Các triệu chứng bệnh lý gây ra có thể loại trừ nguyên nhân là do đông máu với kết quả nhận được là xét nghiệm âm tính.

Kết quả D-dimer là chỉ số dương tính

Điều này có nghĩa là lượng nồng độ D-dimer trong máu đã vượt quá mức cho phép, người bệnh có thể đang có các cục máu đông rải rác trong mao mạch. Ngoài ra các yếu tố bệnh lý như: Nhiễm trùng, các bệnh mạn về gan, ung thư, mang thai cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến nồng độ D-dimer trong máu tăng cao.

Cuánto tiempo dura el tratamiento de Plasma Rico en Plaquetas? | Aliviam - Clínica del Dolor en Mallorca | Tratamiento del Dolor

Kết quả dương tính sẽ cho thấy, sản phẩm thoái hóa của các Fibrin trong huyết tương ở mức độ cao bất thường. Nguyên nhân có thể chính là do sự hình thành và tan cục máu đông khá đáng kể bất thường. Tuy nhiên, xét nghiệm không thể chỉ ra nguyên nhân hay có được vị trí chính xác.

Tuy nhiên, không phải lúc nào kết quả D-dimer là chỉ số dương tính cũng do sự xuất hiện bất thường của cục máu đông. Một số yếu tố đặc biệt khác có thể ảnh hưởng làm tăng D-dimer trong máu như: chấn thương, đau bệnh về tim, nhiễm trùng, mới phẫu thuật thời gian gần đây, mắc bệnh ung thư, do tình trạng fibrin chuyển hóa bất thường.

Trong thai kỳ, Fibrin cũng được hình thành và vỡ nhiều hơn, vì thế chỉ số nồng độ D-dimer trong máu cũng tăng cao. Bác sĩ có thể kết hợp xét nghiệm D-dimer với các xét nghiệm PTT, PT, Fibrinogen, xét nghiệm đo lượng tiểu cầu,… để loại trừ chính xác nguy cơ ở phụ nữ mang thai.

Un análisis de suero sanguíneo mejora el diagnóstico de enfermedades oncológicas

Ngoài ra, xét nghiệm máu loại này cũng được sử dụng như một xét nghiệm bổ trợ. Bởi xét nghiệm này cho ra được kết quả có độ nhạy cao, nhưng độ đặc hiệu thì lại không tốt nên chỉ dùng để loại trừ bệnh lý huyết khối tĩnh mạch sâu.

Tùy vào tình trạng bệnh nhân cụ thể, bác sĩ hoàn toàn có thể chỉ định thực hiện các xét nghiệm D-dimer kết hợp với các xét nghiệm khác quan trọng để đánh giá nguy cơ bệnh toàn diện.

Kết quả xét nghiệm này chỉ nói lên người bệnh có nguy cơ cao có cục máu đông chứ không thể nào khẳng định hoàn toàn. Xét nghiệm D-dimer cũng không thể có khả năng chỉ ra vị trí chính xác của cục máu đông, do đó để có kết quả chính các nhất các bác sĩ sẽ thường phải chỉ định làm thêm các kỹ thuật xét nghiệm cận lâm sàng khác.

Xét nghiệm D-dimer có nguy hiểm không ?

Un análisis de suero sanguíneo mejora el diagnóstico de tumores - Asociación de Afectados de Neurofibromatosis

Câu trả lời là xét nghiệm D-dimer không hề nguy hiểm. Xét nghiệm D-dimer cũng tương tự với những xét nghiệm máu khác, mẫu xét nghiệm được lấy bằng thủ thuật rút máu bằng kim tiêm kim loại. Do đó một số những biểu hiện như chảy máu vùng chích kim, chóng mặt, hay đau nhức ở mức nhẹ là hoàn toàn bình thường.

Một số trường hợp có những rủi ro đặc biệt hy hữu có thể phát sinh là trường hợp nhiễm trùng, xuất huyết hoặc ngất xỉu.

Cũng giống như rất nhiều các loại hình xét nghiệm máu khác. Thực hiện xét nghiệm D-dimer chắc chắn không gây nguy hiểm trong quá trình thực hiện. Các nhân viên y tế sẽ tiến hành thực hiện thủ tục lấy máu bằng một kim tiêm kim loại.

Chính vì vậy những vết chích hay những vết bầm hay cảm giác đau nhức ở vùng lấy máu là những hiện tượng bình thường có thể xảy ra. Bên cạnh đó cũng có một số trường hợp hy hữu có thể ngất xỉu bởi do phát sinh nhiễm trùng, xuất huyết hoặc quá yếu.

Biopsia líquida, la nueva revolución para luchar contra el cáncer - Infobae

Xét nghiệm D-dimer mặc dù được xem là xét nghiệm giúp kiểm tra tình trạng huyết khối trong máu. Tuy nhiên lại không thể nào giúp chỉ ra vị trí cũng như nguyên nhân chính xác hình thành các huyết khối đó. Vì thế để có thể chẩn đoán một cách đúng đắn về tình trạng sức khỏe của người bệnh các bác sĩ hoàn toàn có thể chỉ định thực hiện thêm một số xét nghiệm khác.

Khi phát hiện ra được những dấu hiệu bất thường trong cơ thể, người bệnh tuyệt đối không được lơ là chủ quan. Cần tới các cơ sở y tế uy tín để được thăm khám và thực hiện xét nghiệm sớm.

Những điểm cần lưu ý khi thực hiện xét nghiệm D-dimer?

Để có được một kết quả xét nghiệm D-dimer chính xác nhất người bệnh nên lưu ý một số điều sau:

  • Không ăn uống trong khoảng thời gian từ 8 đến 12 giờ trước khi làm xét nghiệm.
  • Ngưng việc tiếp tục sử dụng các loại thuốc, chất bổ sung hay mẫu máu để tránh ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

Análisis de sangre: Últimas noticias, videos y fotos de Análisis de sangre | Univision

Đối với một số trường hợp có nồng độ D-dimer bỗng tăng bất thường rất có thể do một số nguyên nhân sau đây:

  • Bệnh nhân bị tắc mạch phổi
  • Huyết khối động mạnh
  • Các huyết khối trong tĩnh mạch sâu
  • Tình trạng tăng đông máu hoặc bệnh nhân mắc một số căn bệnh mãn tính
  • Bệnh nhân bị chấn thương
  • Phụ nữ đang mang thai
  • Bệnh nhân vừa trải qua một cuộc phẫu thuật và hiện đang trong giai đoạn hậu phẫu
  • Bệnh nhân sau khi thực hiện điều trị tiêu fibrin
  • Các bệnh nhân nào đã có tiền sử bị nhồi máu cơ tim

Nguy cơ khác gây ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

  • Hiệu giá yếu tố dạng thấp tăng cao trong hàm lượng huyết thanh dẫn đến việc kết quả xét nghiệm dương tính giả
  • Loại thuốc làm tiêu fibrin có thể khiến tăng kết quả xét nghiệm
  • Tình trạng tăng lipid trong máu hoặc mẫu bệnh phẩm bị tủa đục khiến cho việc thực hiện đo lường xét nghiệm D-dimer siêu nhạy bị tăng cao hoặc hạ thấp

Análisis de sangre: Últimas noticias, videos y fotos de Análisis de sangre | Univision

Để không bị ảnh hưởng kết quả xét nghiệm cần lưu ý một số điều sau

  • Không được ăn uống trước khi thực hiện xét nghiệm trong khoảng thời gian từ 8 – 12 giờ
  • Nói với bác sĩ về các loại thuốc mà bệnh nhân đang sử dụng. Đồng thời có thể ngưng ngay việc sử dụng các loại thuốc và các chất bổ sung trong máu bệnh nhân để không ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Trong khi thực hiện xét nghiệm

Quá trình thực hiện xét nghiệm máu này, các chuyên viên y tế sẽ sử dụng một chiếc kim tiêm chuyên biệt để rút ra một lượng nhỏ hồng cầu từ tĩnh mạch ở bắp tay. Kỹ thuật này thường sẽ được diễn ra nhanh chóng với độ chuẩn xác cao nên có thể đảm bảo độ tiệt trùng của mẫu máu.

Sau khi người bệnh đã thực hiện xét nghiệm

Người dùng sẽ được sát trùng vết thương (khá nhỏ) ở khu vực lấy máu. Sau đó người dùng có thể chờ đợi kết quả trong vài ngày tới nếu như không thể nào có những chỉ định đặc biệt nào từ bác sĩ.

Xét nghiệm D-dimer là gì? Đọc kết quả và lưu ý khi xét nghiệm D-dimer | Medlatec

Tổng kết

Hy vọng với những thông tin tổng hợp trong bài viết trên đây sẽ giúp các bạn đọc có thể những hiểu biết hữu ích về xét nghiệm D-dimer. Trong trường hợp có thể được bác sĩ trực tiếp chỉ định làm xét nghiệm D-dimer thì người bệnh cũng đừng quá lo lắng. Chỉ cần lắng nghe lời khuyên và những định hướng đến từ bác sĩ để có những cách khắc phục điều trị tốt nhất cho sức khỏe của mình.

0 ( 0 bình chọn )

Hanalab – Trung Tâm Xét Nghiệm Y Khoa Chất Lượng Cao

https://hanalab.vn
Trung tâm xét nghiệm y khoa chất lượng cao Hanalab cam kết mang lại cho quý khách hàng kế quả chính xác, nhanh chóng với dịch vụ chăm sóc khách hàng tận tình, chu đáo.

Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm